Tin trong nước
Tin thế giới
đăng nhập
   
Tên truy cập
Mật khẩu
 
hỗ trợ trực tuyến
   

Ms. Đông

Ms. Mai

Ms. Ngọc

Mr. Elvis Nguyen

 
tin tức
   
Nâng cao sức cạnh tranh hàng Việt Nam xuất khẩu
Xuất khẩu hàng hóa: Tăng trưởng mạnh nhưng thiếu vững chắc
Xuất khẩu thủy sản có đạt được mục tiêu 9 tỷ USD?
Xem tất cả
 
 
Tin trong nước
 
 
14/06/2017
Việc miễn thuế đối với hàng hóa NK để sản xuất XK dễ bị lợi dụng để gian lận, trốn thuế

HQ Online)- Việc miễn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu có nguy cơ dễ bị lợi dụng để gian lận, trốn thuế, vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung quy định liên quan là hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý.

Công chức Chi cục Hải quan Khu công nghiệp Bắc Thăng Long kiểm tra hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Ảnh: HỮU LINH.

Theo quy định tại khoản 7 Điều 16 Luật thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu số  107/2016/QH13 ngày 6/4/2016 thì “7. Nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu” thuộc đối tượng được miễn thuế nhập khẩu. Cơ sở để xác định hàng hóa được miễn thuế theo quy định nói trên được quy định tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định 134/2016/NĐ-CP, cụ thể gồm các điều kiện sau:

a) Tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa xuất khẩu có cơ sở sản xuất hàng hóa xuất khẩu trên lãnh thổ Việt Nam; có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với máy móc, thiết bị tại cơ sở sản xuất phù hợp với nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu và thực hiện thông báo cơ sở sản xuất theo quy định của pháp luật về hải quan;

b) Nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu được sử dụng để sản xuất sản phẩm đã xuất khẩu.

Trị giá hoặc lượng nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu được miễn thuế là trị giá hoặc lượng nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu thực tế được sử dụng để sản xuất sản phẩm thực tế xuất khẩu, được xác định khi quyết toán việc quản lý, sử dụng nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất sản phẩm xuất khẩu theo quy định của pháp luật về hải quan.

Khi quyết toán, người nộp thuế có trách nhiệm kê khai chính xác, trung thực trị giá hoặc lượng nguyên liệu, vật tư, linh kiện xuất khẩu thực tế sử dụng để sản xuất sản phẩm gia công thực tế nhập khẩu đã được miễn thuế khi làm thủ tục hải quan.”

Việc kiểm tra cơ sở sản xuất để xác định hàng hóa miễn thuế tạm thời được thực hiện theo quy định tại Điều 57 Thông tư 38/2015/TT-BTC cho đến khi có Thông tư hướng dẫn thay thế (do Thông tư 38/2015/TT-BTC ban hành trước Nghị định 134/2016/NĐ-CP, mà Nghị định 134/2016/NĐ-CP lại chưa có Thông tư hướng dẫn), việc kiểm tra này theo các quy định hiện hành thì cơ quan Hải quan không nhất thiết phải thực hiện kiểm tra trước khi đăng ký tờ khai nhập khẩu. Tuy nhiên với điều kiện miễn thuế được quy định tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định 134/2016/NĐ-CP nói trên thì gần như doanh nghiệp có cơ sở sản xuất và doanh nghiệp nhập khẩu khai loại hình sản xuất xuất khẩu sẽ được miễn thuế nhập khẩu, không thu thuế GTGT khi đăng ký tờ khai nhập khẩu”.

Với các quy định về điều kiện miễn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu như trên khi thực hiện sẽ có những tồn tại sau đây mà doanh nghiệp có thể lợi dụng để gian lận, không phải nộp thuế đầu vào, thậm chí doanh nghiệp có thể tiêu thụ nội địa rồi bỏ trốn:

Thứ nhất: Do không ràng buộc trách nhiệm kiểm tra cơ sở sản xuất trước khi đăng ký tờ khai nhập khẩu theo loại hình sản xuất xuất khẩu để miễn thuế (doanh nghiệp chỉ cần thông báo cơ sở sản xuất trước là được) sẽ dẫn đến nếu doanh nghiệp cố tình lợi dụng (chưa nói đến việc ngầm thông đồng) để khai báo gian dối để được miễn thuế rồi bỏ trốn hoặc chây ì trong việc nộp thuế nếu bị cơ quan Hải quan ấn định thuế, xử lý sau đó.

Thứ hai: Doanh nghiệp vẫn có cơ sở sản xuất đáp ứng điều kiện về năng lực sản xuất như quy định, khi cơ quan Hải quan kiểm tra thì hoàn toàn đảm bảo nhưng thực tế chỉ dùng để sản xuất và tiêu thụ nội địa mà hoàn toàn không dùng cho xuất khẩu nên để kéo dài trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhập khẩu và thuế GTGT đầu vào mà doanh nghiệp vẫn cố ý khai loại hình nhập khẩu sản xuất hàng xuất khẩu để miễn thuế, đến khi tiêu thụ nội địa thì thực hiện kê khai nộp thuế bằng tờ khai thay đổi mục đích sử dụng theo Điều 21 Thông tư 38/2015/TT-BTC mà không hề bị vi phạm nào. Vì quy định hiện nay không yêu cầu doanh nghiệp phải có hợp đồng sản xuất xuất khẩu trước mới được miễn thuế khi nhập khẩu nên doanh nghiệp rất dễ lợi dụng để gian lận.

Thứ ba: Do quy định về điều kiện miễn thuế hàng xuất sản xuất khẩu không bị giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp là nhập khẩu nguyên liệu, vật tư về trong khoảng thời gian bao lâu phải sản xuất, xuất khẩu sản phẩm (trước đây giới hạn thời gian ân hạn là 275 ngày hoặc tối đa không quá chu kỳ sản xuất sản phẩm nếu chu kỳ sản xuất sản phẩm dài hơn 275 ngày, nếu quá thời gian này thì doanh nghiệp phải kê khai nộp thuế, khi xuất khẩu sẽ hoàn thuế) nên doanh nghiệp có thể nhập khẩu miễn thuế rồi vì nhiều lý do khác nhau mà doanh nghiệp không sản xuất, không xuất khẩu, liên tục chuyển tồn, kéo dài từ năm này sang năm khác mà cơ quan Hải quan không thể ấn định, thu thuế. Ở đây là đang nói đến vấn đề doanh nghiệp không có ý gian lận, không chuyển tiêu thụ nội địa mà chỉ để tồn nguyên liệu, vật tư, không xuất khẩu sản phẩm. Trường hợp doanh nghiệp cố ý lợi dụng để gian lận thì sẽ phức tạp hơn rất nhiều.

Qua phân tích trên đây có thể thấy việc quản lý đối với loại hình hàng hóa là vật tư, nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu được miễn thuế theo khoản 7 Điều 16 của Luật thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành, Nghị định 134/2016/NĐ-CP còn có nhiều sơ hở, thiếu sót, dễ bị doanh nghiệp lợi dụng. Mặc dù khoản 3 Điều 6 Nghị định 08/2015/NĐ-CP đã quy định hàng hóa là nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để xuất hàng xuất khẩu đang lưu giữ tại các cơ sở sản xuất của doanh nghiệp vẫn còn luôn chịu sự giám sát của cơ quan Hải quan đến khi hàng hóa xuất khẩu hoặc thay đổi mục đích sử dụng, nộp thuế xong. Tuy nhiên việc giám sát tại cơ sở sản xuất của doanh nghiệp chưa bao giờ là thuận lợi, dễ dàng, cơ quan Hải quan không thể giám sát liên tục tại doanh nghiệp được, đặc biệt là nơi có nhiều doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu. Hơn nữa, hiện nay doanh nghiệp được làm thủ tục đối với loại hình sản xuất xuất khẩu không nhất thiết phải thực hiện tại nơi có cơ sở sản xuất, nên việc giám sát, kiểm tra của cơ quan Hải quan càng khó khăn hơn do không thuộc địa bàn quản lý của mình. Điều này dẫn đến còn nhiều sơ hở trong quản lý đối với đối tượng này, đặc biệt là các đối tượng cố tình gian lận.

Thiết nghĩ, chúng ta cần sớm có các giải pháp quản lý tốt hơn, chặt chẽ hơn, sớm ban hành thông tư sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế Thông tư 38/2015/TT-BTC để quản lý chặt chẽ đối với đối tượng miễn thuế là hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, tạo sự công bằng trong kinh doanh cho các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật, trừng phạt nghiêm khắc vi phạm và tránh sơ hở, thiếu sót để doanh nghiệp lợi dụng, gian lận, kinh doanh không lành mạnh.
THEO :  Lý Văn Đông (Hải quan Quảng Ngãi)

Nguồn:  http://www.baohaiquan.vn



Bản in   Gửi bạn bè

Các tin khác:
  Những nhóm hàng xuất khẩu chính 5 tháng 2017 14/06/2017
  Hải quan “lên dây cót” chống buôn lậu cuối năm 09/11/2016
  HÀ NỘI: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU 10 THÁNG ĐẠT HƠN 8,8 TỶ USD 25/10/2016
  Hải quan lên kế hoạch thực hiện Cơ chế một cửa đường hàng không 25/10/2016
  Tăng sự tương tác giữa Hải quan và doanh nghiệp 25/10/2016
  Xác định tỷ lệ hao hụt trong kinh doanh xăng dầu 25/10/2016
  Hải quan Hải Phòng: Đưa Nghị quyết 19 vào thực tiễn 25/10/2016
  Tổng cục Hải quan cung cấp 70% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 vào 2017 25/10/2016
  Sắp có hãng Hàng không thứ 5 Vietstar 13/09/2016
  DOANH NGHIỆP CHÂU ÂU LẠC QUAN VỚI MÔI TRƯỜNG KINH DOANH TẠI VIỆT NAM 09/09/2016